Thứ ba, 12/09/2017 07:38

Tài tử âm nhạc trong xó rẫy

Đà Lạt từng là nơi hội tụ hào kiệt văn nghệ tinh hoa ở phương Nam.

Giờ xứ này vẫn có lắm người viết nhạc, nhưng chẳng hiểu vì sao họ ồn ào, khoe khoang, luôn đầy đố kỵ, ảo tưởng, dù bài hát nào họ viết về Đà Lạt cũng… nhạt. Rồi lần nọ, ngồi trong một nhạc quán đêm, có người đàn ông lùi xùi như nông dân, bỗng dưng xin góp vui cho mọi người bài hát ông viết.

Giọng ông ngân lên: “Chiều một mình đi qua thành phố xưa. Thương bàn chân dốc đá rêu mờ... Chiều một mình đi qua đồi núi xưa... Thấy mình quen như chiếc bóng quê nhà...”. Khi ông dứt và bảo tên nó là Về qua phố xưa, phổ từ bài thơ Mùa đông thứ mười bảy của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng xa xưa thì ai nấy ngơ ngác: “Rất Đà Lạt!”. Khách trong quán muốn được nghe nữa nhạc ông viết.

Ông chơi luôn một bài, lần này là điệu Tango: “Trời chiều Đà Lạt về trên phố sương... Một chiều nhạc ngựa về buông vó mềm... Trời nhẹ làn mây lướt qua. Lặng nhìn lữ khách vắng xa... Như từng yêu trong kiếp nào...”. “Nó là bài Chiều Đà Lạt”, ông nói, rồi trao cây guitar gỗ lại cho những nhân vật trung tâm của quán đêm.

Lai và cây guitar gỗ

Từ hai bài hát đó, những tháng sau đấy tôi đã đi tìm ông. Có người nói ông ở tận Di Linh. Tôi lang thang Di Linh, mãi cũng “đụng” ông trong một rẫy cà phê ở một làng núi nghèo.

* * *

Thôi nhỉ, gọi “ông” làm chi cho nặng nề, trịnh trọng. Bài hát đầu tiên Lai viết là khi Lai vớ được bài thơ của một nữ sinh in trong tập nội san của trường nữ trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt). Cái mơ mộng của cậu trai nam trung học Trần Hưng Đạo (Đà Lạt) đã đẩy đời Lai dính sâu vào âm nhạc từ đấy. Càng ngày Lai càng mê nhạc “trầm trọng” hơn, dù Lai là viên chức của lâm trường Đà Lạt. Rồi Lai bỏ ngành đi làm đủ thứ nghề kiếm sống ở phố quê, từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước. Từ đó Lai viết thong dong: Điệp khúc mùa thu, Giai điệu mùa xuân, Đêm Lâm Hà, Trong chiếc nôi đời, Từ đó đôi khi, Phố tôi...

Năm 2000, Lai về Sài Gòn mưu sinh, nuôi con, với nghề chở nước đá bỏ cho quán cà phê, xà bông cho chợ búa, rồi nhân viên photocopy ở trước trung tâm Anh ngữ... Đây là lúc Lai tranh thủ đăng ký học dự thính không chính thức ở Nhạc viện Thành phố những lúc rảnh, với “món” guitar classic. Lai không nệ hà tuổi tác, mà học chung đám sinh viên, học viên trẻ. Ở Sài Gòn, quá nhớ phố núi quê mình, Lai đã viết một bài hát chân thành và da diết: “Ngàn thông reo khi gió về nhè nhẹ. Nhớ những con đường quanh co. Nhớ khóm hoa vàng đung đưa trong gió. Nhớ bài tình ca...”. Và vì nhớ quá, mà trong nhạc phẩm Đà Lạt khi xa này, Lai nông nổi dặn rất hư vô ngược về phố núi: “Nhắn những cánh rừng thông xanh. Giữ cho mặt hồ long lanh...”.

Chẳng lẽ Lai là chút dư ba, một mảnh vỡ nghệ sĩ sót lại của Đà Lạt thời trước 1975? Ấy là thứ hồn hậu, chân thành, mộc mạc mà thanh lịch, sang cả. Lai làm nhạc cho chính mình, không nhìn ra xung quanh, không tham vọng, và khi không tham vọng thì giá trị nào cũng lành, sáng, lung linh. Cho đến bây giờ, gần như không bài hát nào của Lai được công bố thật sự, nghĩa là chả có hãng đĩa, hay ca sĩ chuyên nghiệp nào biết đến. Lai viết nhạc cho mình hát. Thế đã quá đủ rồi.

* * *

Lai rất lý tưởng âm nhạc. Ai hát nhạc sai nốt, hay bỡn cợt với âm nhạc là Lai quạu. Lai làm bạn bè thăng hoa cũng từ âm nhạc. Và Lai làm đau lòng bạn bè cũng từ âm nhạc. Lai mà đệm đờn, đánh tango thì gái chảnh chẹ nhất ngang qua môi mặt cũng giãn ra. Và Lai mà hát thì ca sĩ chuyên nghiệp huênh hoang đứng nghe cũng dè chừng.

Nhưng nhờ vậy mà Lai làm được điều không ai làm được. Ấy là Lai mang đờn rảo khắp Di Linh, len lỏi vào những xóm buôn, khu phố thị trấn. Từ ngày Lai về Di Linh, đời sống âm nhạc tử tế ở thị trấn miền núi này rộn ràng lên tí.

Trong một quán cà phê ở Di Linh, Lai bỗng dưng làm nhạc công. Cái quán cà phê Hương Xưa trong hẻm hóc này tự dưng trở thành một điểm âm nhạc sang cả, tụ điểm văn hóa mỗi cuối tuần. Có đêm tôi nhận ra cả khách B’lao, Đà Lạt lạc đến. Lai đệm đờn cho những thị dân lên đời mặc váy ngắn váy dài như người Sài Gòn thích hát, và cho cả những nông dân cần ca để “xả” vất vả sau ngày lam lũ ở rẫy cà phê. Họ đến từ các vườn rẫy xung quanh, và xã xa Liên Đầm, Tân Châu, Tân Thượng... Họ hát nhạc đứt, nhạc khúc, nhạc đảo, nhạc vênh, nhạc lành, nhạc rách... Lai chiều tuốt.

Những đêm như thế tôi ngồi dưới nghe người ta hát và nhìn Lai chỉ tập trung vào cây đờn, cần mẫn, chẳng thấy dõi xuống khán giả ở dưới. Phận nhạc công là thế, dù đờn hay đến mấy, thì nếu có tiếng vỗ tay là cho người hát chứ không cho người đờn. Ánh sáng nến chăm chút, tinh tế và tiếng guitar mộc từ một tay đờn “xịn” cũng làm quán cà phê vui đều, ấm áp. Có kỳ, lại thấy Lai chơi với một “ban nhạc” hai người mà thành viên đệm keyboard là một người mù. Họ chơi với nhau ăn ý lạ kỳ. Lai bảo mình thấy cảm xúc khi chơi với những người tàn tật. Anh nhạc công mù kia không học nhạc từ Lai mà gọi Lai là thầy.

Chủ quán là một người có tâm hồn văn nghệ, chịu chơi nên cũng trả ít tiền công cho Lai, và tất nhiên cả anh bạn mù nắm keyboard, và cô nàng MC béo như hộ pháp. Về đêm, Lai không đi xe máy được bởi cận quá nặng, nên hôm nào đi làm “nhạc công cà phê” như thế, Lai nhờ người hàng xóm chở từ xóm đạo Tân Phú, xã Đinh Lạc xuống thị trấn huyện lỵ.

Lai làm nhạc công ở một quán cà phê vào ban đêm ở thị trấn Di Linh bên cạnh một “đồng nghiệp” keyboard mù

Nhưng ý nghĩa đời nhạc của Lai không phải ở chơi nhạc, nhạc sĩ, mà là ở chỗ khác.

Từ khi bỏ quê xứ Đà Lạt về Di Linh, Lai lao vào dạy nhạc cho những người xa lạ. Vùng nông thôn miền núi vốn khát nhạc mà. Ở thị trấn Di Linh giờ người ta hay thấy cái ông hơi già già phong thái rất phong trần mang chiếc đờn guitar trên lưng. Lai đang đi dạy nhạc đó mà. Mỗi ngày Lai chạy tới chạy lui nhiều điểm, nhiều chỗ, nhiều gia đình.

Có trưa ghé thị trấn Di Linh, tôi thấy Lai ăn cơm bụi, để đi dạy lại, vì nhà Lai cách thị trấn bảy cây số và cặp kính trên mắt Lai thì quá dày. Học trò của Lai thì từ con dân cày, thương nhân, giáo viên, đến công chức xứ huyện. Tôi cũng theo Lai trong nhiều cuộc đi dạy quái lạ như thế. Kiểu dạy của Lai là trực truyền, duy nhất một học trò cho mỗi lúc lên lớp. “Lên lớp” kiểu của Lai là thầy mang đờn đến nhà trò. Thời buổi này mà còn kiểu dạy dốc lòng, nhiều cảm xúc như thế kể cũng thú vị.

Lai bảo dạy thế này học trò nắm chắc nhạc lý, và nhanh ôm đờn chơi được. Nhìn Lai cần mẫn như con tằm, và coi học trò như con, tôi nhớ những ông giáo làng ngày xưa. Cũng có những chàng, nàng ba bốn chục tuổi tìm Lai “thọ giáo”. Ngoạn mục hơn, Lai còn vác đờn đến tiệm massage khiếm thị ở một góc phố nọ để dạy nhạc cho các nhân viên bị mù. Tôi cũng lấy làm lạ, khi ai ở thị trấn này cũng gọi Lai là “thầy”, dù anh mới xuống ở đây năm năm.

Lai và những giờ vật lộn với rẫy cà phê

Lai vui nhất là khi “phát hiện” thêm một trẻ thơ, thanh niên người bản địa K’ho có năng khiếu âm nhạc. Người K’ho coi rẫy ruộng quan trọng hơn âm nhạc, nên học trò K’ho của anh bất chợt đi học rồi bất chợt không. Lai tha thiết nhất là làm sao cho thanh thiếu niên người dân tộc yêu nhạc và biết đánh đờn. “Đánh được đờn nó sẽ yêu quê xứ nó, và rẫy vườn hơn. Nó sẽ không đi uống rượu, và đi... đánh nhau”. Nghệ thuật làm con người ta hướng thiện và yêu cuộc sống mà. Có lần Lai ưu tư, “có đứa học trò K’ho rất có năng khiếu, nhìn ngón tay thuôn dài mượt và lả lướt trên đàn mà mình thèm, nhưng nhà nó nghèo, còn mình thì không có tiền để đầu tư cho nó vào Nhạc viện TP.HCM”.

Lai ạ, tấm lòng ông đã tạm là “Nhạc viện” rồi.

* * *

Có bận gặp nhau Lai chỉ nói về nhạc. Có bận gặp nhau Lai nói về nhạc cùng cây cà phê. Có bận gặp nhau Lai nói về cây cà phê cùng nhạc. Ấy là khi ngang qua Di Linh, ghé thăm, nhìn Lai lúi húi trong rẫy cà phê bẻ chồi, tưới nước, rải phân, hái trái, phơi hạt. Hình ảnh một nông dân thực thụ. Lai sống chính bằng nghề làm rẫy cà phê. Thế đấy, mà khi đã rửa tay sạch đất thì Lai vác đờn lên đường. Vùng trũng hưởng thụ văn hóa văn nghệ Di Linh nói riêng và Lâm Đồng nói chung vẫn khát nhạc như cái rẫy cà phê của vị nông dân - nhạc sĩ Phạm Ngọc Lai luôn khát nước vào mùa khô này.

Theo Nguyễn Hàng Tình
Người đô thị

1  2  3  4  5  

Góc ảnh

Cận cảnh vẻ đẹp của loài hoa trị được chứng trầm cảm

Cận cảnh vẻ đẹp của loài hoa trị được chứng trầm cảm

Ngoài việc được biết đến với hoa đẹp rực rỡ thì hoa ban âu còn có tác dụng làm lành các vết thương, trị các bệnh suy sụp về tinh thần, trầm cảm.